Giáo lý tu học -Tài liệu do chùa Quán Thế Âm biên soạn

24 Tháng Một, 2017 bởi admin.     41

NHỮNG ĐIỀU CĂN BẢN CHO CÁC PHẬT TỬ

CHÙA QUÁN THẾ ÂM – NGŨ HÀNH SƠN – TP. ĐÀ NẴNG BIÊN SOẠN

*Con đường chân hạnh phúc an lạc của người Phật tử

Đời thường, ai cũng muốn vượt thoát nhưng trở ngại đau khổ của thân tâm và mong cầu sự ấm no hạnh phúc, an lạc. Muốn như vậy, trước tiên người đó phải là một người lương thiện, chẳng hạn như không phạm pháp, ngoại tình, cờ bạc, rượu chè, trụy lạc v.v.. Tuy nhiên, vì không có những phương pháp cụ thể để thực hành và hiểu biết, phân biệt đâu là sự chân hạnh phúc và đâu là sự hạnh phúc giả tạo. Muốn đạt được sự mong cầu trên, thì phải có sự hướng dẫn cũng như lòng phát nguyện quyết tâm thì mới có thể giải trừ khổ đau và tiến tới niềm an lạc, hạnh phúc lâu dài.

Kho tàng giáo lý những pháp môn của Đạo Phật đáp ứng được những vấn đề nêu trên. Vì vậy, để có được đời sống chân hạnh phúc an lạc thì nên học hỏi và thực hành giáo lý Đạo Phật. Vì vậy trước tiên phải trở thành người Phật tử, tức là tín đồ Đạo Phật, mà muốn trở thành một Phật tử, tín đồ Đạo Phật thì phải hiểu những điều tối thiểu giáo lý cơ bản của Đạo Phật đối với người mới nhập Đạo.

I. YẾU LƯỢC NHỮNG ĐIỀU GIÁO LÝ CƠ BẢN:

1.Ý nghĩa của Đạo Phật:

Đạo Phật là con đường, là phương pháp giải thoát đau khổ, dẫn đến sự chân hạnh phúc, an lạc từ tầng bậc thấp đến cao cho tất cả nhân loại và chúng sanh. Những tinh hoa của Đạo Phật đó là: Tình thương và trí tuệ, tính tự do tư tưởng, tính nhân bản, bình đẳng, vô ngã và vị tha, những phương pháp điều phục để làm chủ thân tâm trước những thói hư tật xấu, tinh thần tự lực và thực tiễn cho cuộc sống.

Cao hơn là tính rốt ráo, giác ngộ, thoát ly sự sinh tử tiến tới trạng thái chân hạnh phúc an lạc tuyệt đối, tâm ý không còn các vọng tưởng điên đảo (tham, sân, si).

2.Nguồn gốc của Đạo Phật:

Đạo Phật là một tôn giáo lớn của nhân loại, Đạo Phật có ý nghĩa rất lớn trong quá trình tiến bộ của con người và xã hội. Không những trong tư tưởng của người Á Đông, mà hiện nay còn chinh phục được cả tư tưởng của người phương Tây, điển hình như Albert Einsteins, nhà vật lý học nổi tiếng trên thế giới đã nói: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo của toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên… chỉ có Đạo Phật mới đáp ứng đủ các điều kiện ấy”.

3.Đạo Phật có từ hồi nào:

a/ Về bản thể:  Đứng về phương diện bản thể thì Đạo Phật có từ vô thỉ, nghĩa là chúng sanh có lúc nào thì Đạo Phật có ngay lúc đó. Vì Phật chính là bản tánh chơn như, thường hằn, thanh tịnh, trí tuệ của mỗi chúng sanh.

b/ Về lịch sử: Đạo Phật đã xuất hiện cách đây 2552 năm (tính đến năm 2008), trước Tây lịch 554 năm tại Tiểu bang Ca Tì La, nằm dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn (Ấn Độ). Do Thái tử Tất Đạt Đa con Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da. Ngài vì đại nguyện lớn lao, tình thương vô hạn, muốn giải trừ những điều đau khổ, phiền não, đem đến sự chân hạnh phúc an lạc cho nhân loại chúng sanh, nên Ngài đã khước từ mọi hạnh phúc, quyền uy, tiện nghi vật chất cho riêng mình để cầu đạo giải thoát. Và cũng từ tâm nguyện vĩ đại ấy, sau khi chứng được đạo quả giải thoát vô thượng, Ngài đã đem những phương pháp, đạo lý này để hoằng hóa độ sanh.

c/ Lược yếu tiểu sử Đức Phật Thích Ca: Ngài sanh vào ngày 15 tháng 4 âm lịch (năm 623 trước Thiên Chúa) tại vườn Lâm Tỳ Ni, nước Ca Tỳ La (nay là nước Nê Pan). Song thân của Ngài là Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da. Tên của Ngài là Tất Đạt Đa, sau khi Ngài sinh ra đời được bảy ngày thì Hoàng hậu Ma Da qua đời, Ngài được người dì là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề chăm sóc. Thái tử là một người thông minh phi thường, chỉ trong 5 năm (từ 7 đến 12 tuổi) Thái tử đã ọc qua văn – võ và các môn học tự nhiên khác. Đến năm 16 tuổi, Vua Tịnh Phạn vì lo sợ Thái tử xuất gia theo lời tiên đoán của Đạo sĩ A Tư Đà nên nhà vua đã tiến hành hôn lễ cho Thái tử với Công chúa Da Da Đà La. Tuy rằng sống trong nhung lụa quyền quý, vợ đẹp con xinh nhưng Thái tử vẫn không đắm say mà luôn hướng tìm cho con đường cao hơn. Đó là làm sao cho chúng sanh thoát khổ. Một lần trong Lễ hạ điền, Thái tử đã yên lặng ngồi tĩnh tọa, suy nghiệm về nỗi khổ đau, tranh giành sự sống của các sinh vật và nổi khổ muôn thuở của chúng sanh nhân loại, làm sao để vượt thoát được.

Từ những ý nghĩ này, năm 19 tuổi giữa đêm ngày 08 tháng 02, Ngài cùng với người hầu là Xa Nặc đã vượt thành tìm chân lý giải thoát. Sau 06 năm tu hành khổ hạnh và qua 49 ngày tham thiền nhập định, vào lúc canh 1, Ngài đã chứng được Túc Mạng Minh (có nghĩa là đã thấy được quá khứ về vô lượng kiếp của mình), đến canh 2 Ngài chứng được Thiên Nhãn Minh (đã thấy được quá khứ vô lượng kiếp về sự thọ nghiệp và nhân quả của chúng sanh). Đến canh 3 Ngài chứng Lậu Tận Minh (là tuệ giác thấu rõ những phương pháp giải trừ nỗi phiền não, khổ đau trầm luân sinh tử). Sau cùng, Ngài chứng được quả vị vô thượng, chánh đẳng, chánh giác, là vị Phật trong hiện kiếp của thế giới này, được thế gian tôn xưng là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Trải qua 49 năm thuyết pháp (sau này kiết tập thành Tam Tạng Giáo Điển Kinh Luật Luận), Ngài thấy con đường giáo hóa độ sanh của mình đã đến hồi viên mãn, Ngài quyết định đến xứ Câu Ly thị tịnh giữa hàng cây SaLa, xả xác thân như bao nhiêu con người khác, thọ 80 tuổi.

Cuộc đời của Đức Phật từ lúc sinh ra, trưởng thành xuất gia thành đạo, đến lúc giáo hóa độ sanh viên mãn có nhiều việc, nhiều điều vi diệu thâm mật cao siêu là kho tàng phong phú rất lợi lạc cho nhân sinh. Muốn thâm nhập thực hành thì phải học hỏi và nghiên cứu rất nhiều trong Tam tạng Kinh Điển.

II.LƯỢC YẾU:
    – Đức Phật Thích Ca sinh ngày 15 tháng 4 âm lịch tại vườn Lâm Tỳ Ni, họ là Thích Ca, tên là Tất Đạt Đa.
    – Ngài là con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da.
    – Ngài xuất gia năm 19 tuổi (nhằm ngày 08 tháng 02 âm lịch).
    – Ngài thành đạo vào ngày 15 tháng 12 âm lịch.
    – Ngài hoằng pháp độ sanh 49 năm, đã kết tập thành 03 Tạng Giáo Điển Kinh Luật Luận.
    – Ngài nhập Niết Bàn năm 80 tuổi.

III. ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT PHẬT TỬ – TÍN ĐỒ ĐẠO PHẬT:

Khi đã hiểu những điều căn bản, ý nghĩa và lịch sử của Đạo Phật, để bước đầu vào thực hành giáo lý Đạo Phật thì phải quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới. Quy y Tam Bảo là phương pháp hóa cải tâm lý con người. Thọ trì ngũ giới là hóa cải hành động của con người.

1. Ý nghĩa Quy Y Tam Bảo: Lễ quy y Tam Bảo do Chư Tăng cử hành truyền cho người theo Đạo Phật, sau khi quy y thì trở thành người Phật tử, tín đồ của Đạo Phật, cũng gọi là Thiện Nam – Tín Nữ hay Ưu Bà Tăc – Ưu Bà Di. Quy y Tam Bảo là quyết định sự tín ngưỡng của mình chi chính mình. Quy y Tam Bảo tức là quay về nương tựa với 3 ngôi Tam Bảo: PHẬT – PHÁP – TĂNG.

a/ Quy y Phật: tức là quay về nương tựa với Đức Phật, là bậc tỉnh thức đã giác ngộ hoàn toàn, phước trí trang nghiêm, từ bi vô lượng, đức hạnh viên mãn, là tấm gương để noi theo và nhắc nhở chúng ta trên bước đường tìm cầu sự giải thoát và an lạc, cũng chính là nương tựa vào Phật tánh chơn như thường hằng thanh tịnh của chúng ta.

b/ Quy y Pháp: là quay về nương tựa vào những phương pháp của Phật dạy, con đường của từ bi trí tuệ khi áp dụng thực hành thì có đủ công năng để đưa chúng ta vượt qua sự khổ đau phiền não bất thiện đi đến chân hạnh phúc an lạc.

c/ Quy y Tăng: là quay về nương tựa với Chư Tăng, là đoàn thể của những người đang thực hành theo con đường trí tuệ, từ bi và tỉnh thức, là những người đã lìa bỏ danh vọng, vật chất, hạnh phúc của riêng mình để bước đi trên con đường Thánh Đạo, nêu cao phẩm hạnh, đạo đức thanh cao, là người bảo tồn và phát huy đạo pháp ngày một rạng rỡ, thăng hoa. Là người thay Phật dẫn dắt, khai mở cho con người và xã hội hướng đến sự chân, thiện, mỹ đầy trí tuệ tình thương, an vui và hạnh phúc.

2.Ý nghĩa của thọ trì ngũ giới:

a/ Về ý nghĩa của thọ trì ngũ giới là rất xác thực với đời sống, tư cách của một con người lương thiện, văn minh, mà người đời không theo đạo Phật cũng có thể giữ đúng phẩm cách như vậy, đó là ý thức vì sự sát hại gây ra cảnh tương tàn, tương sát làm mất quân bằng môi trường, cuộc sống.

b/ Sự khổ đau do trộm cắp, lường gạt và điều bất công trong xã hội gây ra.

c/ Sự bệnh hoạn, khổ đau, bại hoại gia đình do hành vi ngoại tình, tà hạnh gây ra.

d/ Sự thù hận, chia rẽ, mất đi niềm tin tưởng lẫn nhau, gây đau khổ trong đời sống bằng lời nói dối, thêu dệt, lời nói hung ác, khích bác nhau mà gây ra.

e/ Sự cuồng bạo loạn trí, bệnh hoạn, đau khổ, không làm chủ được thân tâm do uống rượu và sử dụng chất nghiện ngập ma túy độc tố gây ra.

3.Ngược lại, người Phật tử giữ 5 giới là luôn:

a/ Tôn trọng, bảo vệ sinh mạng, môi trường sự sống của cộng đồng nhân loại và muôn loài.

b/ Tôn trọng tài sản của công và của tư, không làm giàu trên sự đau khổ của người khác.

c/ Biết gìn giữ, thủy chung, bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác, không cho nạn tà tâm gây đổ vỡ gia đình và đời sống xã hội.

d/ Biết nói những lời an ủi đem đến xoa dịu những đau khổ cho người, những lời nói chân thành, chân thật gây niềm tin tưởng, an ủi và hy vọng có giá trị hòa giải, xây dựng và hiểu biếtcho gia đình và xã hội.

e/Người Phật tử không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy nghiện ngập độc hại làm mất lương tri, không ăn uống tiêu thụ những sản phẩm có độc tố, trông coi những thông tin phim ảnh có những hình ảnh khiêu dâm, bạo động hận thù, buồn sầu và sợ hãi. Sự ý thức này có lợi cho thân tâm của chính mình và cộng đồng xã hội.

Ngũ giới là 5 điều cơ bản thực hành của người Phật tử tại gia. Thực hành 5 giới là con đường chân chánh tránh được những lỗi lầm, khổ đau, sợ hãi, thất vọng là nền tảng để hướng đến sự an lạc giải thoát, giác ngộ là những điều căn bản của hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc gia đình, góp phần vào sự an lạc và hòa bình của xã hội, đó là:
1.    Không sát sanh.
2.    Không trộm cắp.
3.    Không tà dâm.
4.    Không nói dối (không nói gian dối, thêu dệt nói hai lưỡi, hung ác)
5.    Không uống rượu (các chất có độc hại, ma túy).

IV. NGƯỜI TẠO GIA ĐỐI VỚI BẢN THÂN:

Xác nhận toàn diện cuộc đời bản thân, gia đình và xã hội, đều do con người mình làm căn bản. Có thể hóa cải những hành động, ý nghĩ bất thiện gây khổ đau, phiền não bằng giáo lý và pháp môn tu tập của Phật Pháp mà trước tiên là sự hóa cải ỏ nơi thân tâm của chính mình.

Ý thức được những hành động bất thiện (tức sát sanh, trộm cắp, dâm tà, nói dối và nghiện ngập) là nguyên nhân gây tác hại cho mình và cho người. Nên tự quyết định một cách dứt khoát chân thành quy y Tam Bảo, thọ trì ngũ giới. Đã là tín đồ Phật giáo thì dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng giữ vững được chánh tín vào niềm tin Tam Bảo.

Học tập, thực hành giáo lý Đạo Phật (từ Nhiếp Pháp, Lục Hòa, Thập Thiện, Bát Chánh Đạo, Bát Quan Trai Giới…) Để giúp cho sự sống của mình và thân nhân xã hội có được sự an lành hạnh phúc.

Tự cấm chỉ những tâm lý phiền não, tham lam, dối trá, si mê và khiếp sợ, tránh làm những nghề nghiệp nguy hiểm hoặc giao du với bạn xấu và những thú vui tai hại cho bản thân.

Hiểu rõ, đi sâu vào đạo lý nhân quả để không chán nản trong lúc khó khăn, hoạn nạn, rủi ro. Can đảm, dũng tiến trong việc hành thiện, không kiêu căng, ỷ lại, ích kỷ trong cảnh giàu sang.

Trau dồi học tập, khả năng trí thức nghề nghiệp, làm việc siêng năng, giàu nghị lực để làm ra tài sản, sự nghiệp.

Có tài sản rồi thì phải phòng hộ mất mát, biết tiêu dùng hợp lý trong đó một phần để phụng dưỡng cha mẹ, một phần cung cấp gia đình, một phần để sinh lợi, một phần để giúp đỡ xã hội và một phần để phòng hộ lúc rủi ro.

V.NHỮNG BỔN PHẬN KHÁC CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ:

  1. Con cái đối với cha mẹ: Biết ơn cha mẹ đã sinh thành nuôi dưỡng, phải lễ phép, khi cha mẹ dạy bảo phải biết vâng lời, giữ tròn chữ hiếu đạo (khi còn sống cũng như lúc qua đời) phải phụng dưỡng cha mẹ, lúc già yếu phải lo thuốc thang, săn sóc. Phải lo giữ gìn tài sản của cha mẹ làm ra, phải biết giữ gìn gia phong, danh dự của gia đình. Khéo léo chuyển hóa cho cha mẹ thực hành thiện nghiệp theo giáo lý Phật dạy.
  2. Cha mẹ đối với con cái: Phải nuôi dạy cho con trở thành người tốt,tạo cho con gần gũi môi trường đạo đức, người hiền trí, hướng dẫn con tu học, thực hành giáo lý Đạo Phật, mở mang lý trí, phải lo cho con học tập, văn hóa nghề nghiệp thành tài. Đến tuổi trưởng thành phải lo cho con  yên bề gia thất. Đúng thời phải phân cho gia sản hợp lý. Tình thương yêu phải đồng đều với con cái.
  3. Chồng đối với vợ: Đối xử bình đẳng, tiền bạc tiêu xài bình quyền. Nói lời nhân từ đức hạnh, dạy vợ điều ngay, lẻ phải, dắt dìu nhau vào đường đạo đức. Tùy thời sắm sửa những trang phục, trang sức cho vợ không được phóng đãng trai gái, cờ bạc, rượu chè.
  4. Vợ đối với chồng: Kính trọng chồng chẳng nên khinh thường. Phải cần kiệm, chẳng nên lãng phí tiền của. Phải tề gia nội trợ, gây dựng cơ nghiệp cho gia đình. Phải chung thủy với chồng, công dung ngôn hạnh. Phải phụng sự cha mẹ chồng hết lòng. Khéo léo khuyên chồng làm điều chánh, tránh những điều tà.
  5. Đối với bà con quyến thuộc của gia đình: Luôn luôn nhớ nghĩ đến tứ ân (cha mẹ, thầy dạy, quốc gia, xã hội). Phải có lòng ngay thẳng, thuận hòa giữ tình thân ái. Đối với bà con thân thuộc, phải làm tròn bổn phận trong gia tộc. Tùy khả năng sẵn sàng góp công của vào những việc từ thiện xã hội, giúp đỡ người khi gặp hoạn nạn, khó khăn, bệnh tật, thiên tai. Lúc giao thiệp phải lịch sự, văn minh, thành thật, giữ gìn phẩm hạnh. Khi có quyền thế thường hay thi ân, tập tánh bao dung rộng lượng đối với người, tha thứ cho người, làm cho người được an vui. Ủng hộ người cô thế, yếu đuối, giúp đỡ người bị hàm oan. Hết lòng với công việc, chịu đựng mọi sự khó khăn, xử sự công minh, chánh trực, tránh sự sai lầm hàm oan cho người. Dùng lời lẽ chân chính, khuyên lơn người trên kẻ dưới làm lành tránh dữ, làm cho xã hội được công bằng, ấm no, an vui, hạnh phúc.
  6. Đối với người làm công: Phải lượng khả năng sức lực của người mà phân bổ công việc. Phải có tình thương, khi bị bệnh phải lo thuốc thang, phải trả và thưởng công đầy đủ.
  7. Đối với người làm chủ: Phải làm việc đúng thời gian theo phận sự của mình. Phải hết lòng siêng năng, đừng làm nhọc đến chủ. Phải giữ điều cung kính lễ phép, không phá hoại làm tổn hao tài sản của chủ, phải trung thành với chủ.
  8. Đối với bạn hữu: Không kết bạn trong lúc cờ bạc, rượu chè, xa hoa trụy lạc trong công việc bất chính. Có lợi thì cùng chia sẻ. Giới thiệu tài năng và đức tính tốt của bạn.
    Khuyên lơn đúng lúc, phòng hộ cho bạn những việc làm bất thiện, phóng túng, tổn hao tài sản, danh vị. Giới thiệu, giúp đỡ bạn trong công việc, đời sống. 
  9. Thầy đối với trò: Không quản mệt nhọc, siêng năng hết lòng dạy dỗ, dạy cho học trò tài giỏi. Mừng khi thấy trò giỏi vượt trội hơn mình. Nâng cao đạo đức, trình độ tri thức, khả năng nghề nghiệp của học trò cho kịp người giỏi.
  10. Trò đối với thầy: Chú ý lắng nghe, vâng lời thầy dạy bảo. Kính trọng, nhớ ơn thầy như cha mẹ. Siêng năng cố gắng học hành cho thành tài. Bảo tồn danh giá thầy.
  11. Bổn phận người Phật tử đối với Tam Bảo: Sau khi quy y Tam Bảo và thọ trì 5 giới: Nhờ có Tam Bảo mà chúng ta mới thực hành được sự an lạc, hạnh phúc. Nên chúng ta phải hộ trì Tam Bảo bằng những việc làm thiết thực. Cúng dường Tam Bảo theo đúng chánh pháp một cách thuần thành (không vi danh, tướng, không làm ảnh hưởng đến sự an ổn, hòa thuận với gia đình). Phải cư xử hòa nhã thân mến với người đồng đạo. Khéo léo cảm hóa gia đình, thân bằng của mình, tìm theo Đạo Phật bằng sự đức hạnh, gương mẫu của mình khi thực hành Pháp Phật trong công việc hằng ngày một cách linh động. Thờ phụng Đức Phật tại vị trí đặc biệt của gia đình nơi thanh tịnh, tôn nghiêm. Ăn chay một tháng ít nhất là 02 ngày, sắp đặt thời gian siêng năng đi chùa, nghe giảng học tập giáo lý để áp dụng trong cuộc sống. Những ngày lễ lớn như Lễ Phật Đản, Vu Lan, Ngày Tết, Lễ Hội Phật giáo, các khóa tu học, an cư, trai đàn thuyết giảng… nên cố gắng tham gia.

Chúng ta nên thường về chùa để được gần gũi Bổn Sư, gần gũi các thầy mà học hỏi giáo lý. Có điều gì sai lầm nên về sám hối trước Bổn sư và cầu xin chỉ dạy.

VI.Ý NGHĨA LÁ PHÁI:

Lá phái là vật để đánh dấu và tiêu biểu nhắc nhở trên bước đường tu tập của mình. Đem lá phái về chúng ta nên treo ở một nơi nào dễ thấy. Hằng ngày nên nhìn đến nó và luôn luôn nhớ rằng năm ấy, tháng ấy, ngày ấy, chúng ta đã đến chùa ấy, cầu thầy ấy truyền cho Tam Quy va Ngũ Giới. Pháp danh của mình là gì và luôn luôn nhớ rõ pháp Tam Quy và Ngũ Giới như trong phái đã dạy, để quy y theo đó mà tu trì. Có như vậy thời thiện căn mỗi ngày một tăng trưởng và sẽ hưởng phước vô cùng. Chớ không phải chỉ gói cất kxy để khi chết đem theo.

I.NHỮNG ĐIỀU CẦN KHÁC:

Người Phật tử sau khi quy y Tam Bảo rồi, muốn xứng đáng là một Phật tử chân chính, cần nhận thức và thực hiện đúng với bổn phận của mình trên mấy phương diện sau đây:

  1. Đối với Tam Bảo: Phải có lòng tin Tam Bảo đúng với ý nghĩa chân chính của nó và tin một cách vững chắc, không để cho mọi thử thách cam go nào làm dao động, không bao giờ làm điều gì phương hại đến Tam Bảo. Nhiệt tâm hộ trì và truyền bá chánh pháp, nhất là ủng hộ các bậc xuất gia chân chính thực tâm tu học hoằng dương đạo pháp.
  2. Đối với xã hội: Dựa trên tinh thần từ bi và bình đẳng của Đức Phật, hết lòng phục vụ và xây dựng xã hội làm cho cuộc sống giữa xã hội trở nên yên vui hòa hợp, không có sự tranh giành, ganh ghét, hãm hại lẫn nhau.
  3. Đối với gia đình: Phải hiếu thảo với cha mẹ, hòa thuận với vợ chồng, anh em, họ hàng thân thích. Làm thế nào cho tất cả mọi người trong gia đình đều trở về với Tam Bảo và xây dựng gia đình trên nền tảng Phật hóa.
  4. Đối với bản thân: Tinh tấn tu học đúng theo giáo pháp Phật dạy. Bỏ dần dục vọng, ích kỷ, tập sống cuộc đời giải thoát, rộng rãi. Luôn luôn làm những điều lợi mình, lợi người. Tin đúng nhân quả, nhận rõ tất cả các sự vật đều vô thường, không sanh tâm tham đắm. Hướng cuộc đời đi đúng trên con đường giác ngộ.

– Đến chùa phải phục sức trang nhã, giữ gìn sự thanh tịnh tôn nghiêm nơi cảnh chùa và chào hỏi nhau bằng câu: “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” .
– Khi vào chùa lễ lạy hay cần việc gì, phải tuân theo sự hướng dẫn và nội quy của nhà chùa.
– Khi thọ trai nghe tiếng bảng báo hiệu phải nhanh chóng chỉnh trang y phục, tuần tự vào trai đường, hết sức giữ yên lặng để Chư Tăng hướng dẫn thọ thực.
 – Khi lên chánh điện hành lễ, nam nữ không nên đứng lộn xộn, theo sự hướng dẫn của Chư Tăng, lạy Phật thì cúi đầu sát đất.
– Khi nghe thuyết pháp không làm động chúng, phải chí tâm lắng lòng nghe nhớ cho kỹ.
– Mỗi tháng cố gắng đến chùa thọ Bát Quan Trai một đến hai lần để tu tập đời sống giải thoát.
– Nên học thuộc kinh cầu an, cầu siêu để hộ niệm.
– Nên có một cuốn kinh nhật tụng, một xâu chuỗi hạt, một chiếc áo tràng làm và ghi chép những lời Chư Tăng dạy và công việc Phật sự.
– Các nghi lễ hiếu hỷ trọng thể trong gia đình nên nhờ Chư Tăng hướng dẫn tổ chức.

II.THỜ PHẬT:

Người thờ Phật với quan niệm trong sạch đúng đắn, với mục đích cao thượng.
Tượng Phật ngự trị tại nhà để nhớ Đức Phật tại tâm. Chúng ta ra vào hằng ngày chiêm ngưỡng để noi theo và luôn luyện tập những đức tính cao quý, sáng chói muôn thuở của Ngài như: từ bi – hỷ xả, hùng lực, bình đẳng, thanh tịnh, trí tuệ…
Thờ Phật là thờ chân lý cao siêu tuyệt diệu, không có gì quý hơn có Phật ngự trị trong nhà là nơi thiêng liêng nhất để chúng ta thực hành tu tập các pháp mới mà Phật đã dạy, là nơi để chúng ta lễ lạy, tụnh kinh cầu nguyện cho tân tâm an lạc, cuộc sống được thăng hoa, hạnh phúc.

III.LẠY PHẬT:

Đức Phật đã trãi qua vô lượng kiếp tu hành, phước đức cao dày vô biên vô tận. Chúng ta lạy Phật sẽ được hằng sa phước đức, diệt trừ các phiền não nghiệp chướng. Lạy Phật để sửa mình, phục thiện, dẹp bỏ tánh ngã mạn, cống cao. Lạy Phật để tỏ lòng tri ân sâu xa của mình đối với cha lành cứu độ biết bao sanh linh ra khỏi trầm luân khổ ải.
Người lạy Phật với quan niệm trong sạch chân chánh thì xem như đó là một phương pháp của mình biết phục thiện, nép mình dưới đức độ cao dày của đấng giác ngộ chứ không ngã mạn cống cao.

IV.CÚNG PHẬT:

Người cúng dường Phật với tâm niệm trong sạch chân chánh không mục đích lo lót cầu đạo (vì lợi) cũng không cần ai biết đến lễ vật của mình (vì danh). Cúng Phật cốt để tỏ lòng thành kính tri ân. Hằng ngày đốt một nén hương, dâng một cánh hoa cúng Phật để tỏ lòng thành kính tri ân. Như thế chúng ta sẽ tạo được phước đứ trong hiện tại và ngày mai. Cúng Phật cần phải thành tâm.
Câu chuyện cậu bé cúng đất sét cho Phật, bà già cúng đèn, người hành khất cúng muối… Đã chứng tỏ rằng với lòng thành thì vật nhỏ cũng trở thành quý giá.

V.ĂN CHAY:

Người ăn chay vì lòng từ bi không muốn sát hại sinh vật, không muốn sinh vật pahỉ đau khổ vì miếng ăn của mình. Sự ăn chay vì lý do này, rất lợi ích cho sự tu hành, vì nó làm tăng trưởng lòng nhân từ, làm thiện rõ đức tánh bình đẳng giữa muôn loài và phù hợp với bản tâm thanh tịnh. Chỉ có lối ăn chay này mới có ý nghĩa và lâu bền.
Ăn chay là ăn những rau, trái, dưa, đậu mà không ăn thịt, cá, tôm, cua… Tất nhiên phải làm tổn hại đến sinh mạng của chúng. Vì thế người Phật tử thể theo lòng từ bi của Đức Phật không nỡ giết hại chúng sanh để nuôi sống bản thân của mình.
Tùy theo khả năng và sự phát nguyện chúng ta có thể ăn những trai kỳ như sau:
– Mỗi tháng ăn chay 2 ngày (nhị trai): Mồng một và rằm.
– Mỗi tháng ăn chay 4 ngày (tứ trai): Ba mươi, mồng một, mười bốn và rằm.
– Mỗi tháng ăn chay 6 ngày (lục trai): Mồng một, mười bốn, rằm, mười tám, hai mươi ba và ba mươi.
– Mỗi tháng ăn chay 10 ngày (thập trai): Mồng một, mồng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hai mươi ba, hai mươi bốn, hai mươi tám, hai mươi chín và ba mươi.
* Tháng thiếu ăn ngày hai mươi bảy.
– Mỗi năm ăn ba tháng (tam nguyệt trai): Tháng giêng, tháng năm và tháng bảy.
* Hoặc ăn chay những ngày vía Phật và ăn chay trường như các vị xuất gia thì càng quý.
* Nên nhớ: những ngày ăn chay thì chúng ta bặt không nghĩ đến chuyện cá, thịt và nếu làm được những việc thiện như bố thí, phóng sanh thì sẽ được sức khỏe, phước báu, trường thọ.

VI.NIỆM PHẬT:

Niệm Phật là nhớ nghĩ đến Đức Phật. Nhớ nghĩ đến các đức tính từ bi, trí tuệ và giải thoát, nhớ nghĩ đến các đức tướng thanh tịnh, trang nghiêm không ai sánh bằng, nhớ nghĩ đến các công hạnh tự lợi và lợi tha hoàn toàn viên mãn của Phật, hầu đem áp dụng vào cuộc sống hữu ích cho mình và mọi người, mong tất cả đều được giác ngộ, giải thoát như Phật. Đây là một pháp môn trong muôn ngàn pháp môn mà Phật đã nói ra cho các hàng Phật tử tu tập.

Niệm Phật lại cũng có nhiều cách như nhớ đến hình dung đức tánh hoặc niệm danh hiệu Phật.

Trong kinh A Di Đà đức Bổn Sư Thích Ca có dạy: “Cách mười muôn ức cõi Phật về phương Tây có tên là Cực Lạc và hiện thời có Đức Phật A Di Đà đang thuyết pháp độ sanh… Nếu có chúng sanh nào nghe lời nói này đem lòng tin chắc phát nguyện muốn vãng sanh về nước Ngài và đồng thời hằng ngày chí thiết chấp trì danh hiệu của Ngài cho được nhất tâm bất loạn thì sau khi lâm chung sẽ được vãng sanh về nước Ngài.

Ngoài ra, thường ngày lúc đi, lúc đứng, lúc ngồi, lúc ngồi, lúc nằm, lúc làm việc, lúc đi chơi. Lúc nào cũng có thể thầm niệm không nghĩ đến những chuyện xằng bậy khác. Niệm như vậy lâu lâu tịnh niệm nối luôn, vọng niệm tiêu trừ, khi còn sống luôn luôn tưởng niệm đến Phật thì tâm an ổn, được Chư Phật Bồ Tát hộ trì và lúc chết nhất định sẽ được giải thoát tiêu diêu tự tại.

VII.TỤNG KINH:

Người tụng kinh đúng đắn trước tiên phải có lòng thành kính, chú tâm đến những câu kinh mình đang tụng. Tụng kinh để nhớ đến những lời dạy của Phật và để người chung quanh cùng nghe lời Phật dạy, cho nên họ cố gắng tụng một cách rõ ràng, nghiêm chỉnh đúng đắn không lầm lẫn. Họ tụng để cầu thanh tịnh ba nghiệp (thân, khẩu, ý) để thâu nhiếp vọng tâm, sinh định phát huệ.

VIII.TRÌ CHÚ:

Người trì chú đúng đắng nhận thức rằng đây là một phương tiện tu để đoạn hoặc, hiển chơn. Nhờ trì chú mà tâm được định, nhân định mà phát huệ, nhờ huệ mới phá trừ hết vô minh, phiền não.

IX.SÁM HỐI:

Tất cả chúng ta từ hồi nào đến giờ vì mê lầm, không nhận rõ lý chân thật của các pháp nên đã gây tạo vô lượng tội ác và do đó chúng ta bị sanh tử luân hồi chịu không biết bao nhiêu đau khổ, Ngày nay muốn tiêu tất cả những tội ác mà chúng ta đã gây tạo, chúng ta cần phải chí thành sám hối. Có nghĩa là ăn năn tất cả tội ác đã gây ra từ trước và nguyện từ nay về sau không gây tạo thêm nữa. Nếu y như nghĩa này mà sám hối thì bao nhiêu tội ác bất luận nặng hay nhẹ đều có thể tiêu trừ hết. Cũng ví như trong một căn nhà tối không biết là bao nhiêu, như khi đem vào một cây đèn sáng thì sự tối tăm ấy đều tiêu hết.
Về phương pháp sám hối thì có nhiều, nay nói một phương pháp thông dụng nhất là pháp “Tác Pháp Sám Hối”: Mỗi tháng vào tối 14 và tối 30 các chùa, các niệm Phật đường, Chư Tăng và tín đồ tập hợp đông đủ trước Tam Bảo chí thành lễ lạy Hồng Danh các Đức Phật để cầu xin sám hối, đó là thực hành theo phương pháp “Tác Pháp Sám Hối” những ngày đó chúng ta nên về chùa mà cùng nhau chí thành sám hối.
Nhưng nên nhớ rằng đã sám hối như vậy thì từ ấy về sau cần phải luôn luôn giữ gìn tam nghiệp (thân, miệng, ý) không gây tạo thêm nữa. Có như vậy thời bao nhiêu tội từ trước mới có thể tiêu trừ.
Và phương pháp giữ gìn tam nghiệp không gì hơn là chúng ta không hủy phạm năm cấm giới của Phật.
Người sám hối đúng nghĩa, trước tiên phải rất thành thật với mình. Thành kính đến với Phật để xin Phật chứng minh cho sự ăn năn hối cải của mình, cho lời thề nguyện quyết tâm bỏ lỗi trước và không tái phạm lỗi về sau, chứ không đến trước Phật với lòng mong ước được Phật ân xá hay giảm tội vì Đức Phật không phải là một vị thần linh có nhiệm vụ cầm cân nẩy mực cho những tội phước ở đời. Theo thuyết nhân quả thì không có người thưởng phạt, mà trong mỗi nguyên nhân đã ẩn chứa một mầm thưởng phạt, nhân lành thì kết quả tốt, nhân dữ thì kết quả xấu. Sám hối là cốt để đừng quá thắc mắc, quá ưu tư với lỗi trước, làm loạn động sự yên tịnh của lòng mình và nhất là đừng phạm lại lỗi ấy về sau này.

X.TƯ CÁCH KHI GẶP CÁC VỊ TĂNG GIÀ:

Tăng già là tiếng chỉ chung cho các bậc xuất gia chân chính tức là ngôi Tăng Bảo mà mình đã quy y. Cho nên bất cứ ở một nơi nào khi gặp vị xuất gia, chúng ta phải cung kính chắp tay chào hỏi xem như vị Bổn Sư của mình lúc đến chùa phải giữ trang nghiêm thanh tịnh. Đối với mọi người phải giữ lễ độ, không có mặc cảm tự tôn hoặc tự ty, mà luôn luôn tỏ thái độ xứng đáng mình là đệ tử của đấng ĐẠI TỪ ĐẠI BI GIÁC NGỘ.

 


Tin tức nổi bật

THÔNG BÁO VỀ LỄ HỘI QUÁN THẾ ÂM 19/2, NGŨ HÀNH SƠN, TP. ĐÀ NẴNG NĂM 2017

Lễ hội Quán Thế Âm 19/2, Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng năm 2017 được tổ chức trong thời gian 03 ngày từ ngày 14/3/2017…

28 Tháng Hai, 2017
Chương trình đón mừng Xuân Đinh Dậu 2017

Chương trình đón mừng Xuân Đinh Dậu 2017 chùa Quán Thế Âm Đêm Giao Thừa: 00h00: Lễ đón Giao Thừa – Lễ Vía Phật Di…

23 Tháng Một, 2017
Chương trình đón Xuân Đinh Dậu 2017 tại chùa Quán Thế Âm

Đêm Giao Thừa: 00h00: Lễ đón Giao Thừa – Lễ Vía Phật Di Lặc. 01h30 – 04h00: Hái Lộc đầu năm. Ngày mùng 1 Tết:…

10 Tháng Một, 2017